NIỆM HƯƠNG
Tịnh Pháp-Giới Chân Ngôn
Án lam tóa ha. (3 lần)
Tịnh Tam Nghiệp Chân Ngôn
Án sa phạ bà phạ, truật đà sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ, truật độ hám. (3 lần)
CÚNG HƯƠNG
Nguyện đem lòng thành kính,
Gửi theo đám mây hương,
Phảng phất khắp mười phương,
Cúng dường ngôi Tam Bảo,
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tính làm lành,
Cùng pháp giới chúng sinh,
Cầu Phật Từ gia hộ,
Tâm Bồ Đề kiên cố,
Xa bể khổ nguồn mê,
Chóng quay về bờ giác.
(xá rồi đọc tiếp)
TÁN PHẬT
Đấng Pháp Vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng,
Thầy dạy khắp Trời, Người,
Cha lành chung bốn loại,
Quy y tròn một niệm,
Dứt sạch nghiệp ba kỳ,
Xưng dương cùng tán thán,
Ức kiếp không cùng tận.
KỲ NGUYỆN
Hôm nay chính là ngày Đức Thế Tôn Từ Phụ Giáng Thê để hoá độ chúng sinh. Chúng con một dạ chí thành thiết lễ kỹ niệm cúng dường. Đồng kính dâng một nén tâm hương, ba nghiệp trong sạch, cúi đầu đảnh lễ, nguyện y theo lời Phật dạy, trì tụng kinh chú, xưng tán hồng danh; quyết theo Phật Pháp làm lành, báo đền công ơn hoá độ, tâm Bồ Đề kiên cố, chí tu học vững bền, cùng pháp giới chúng sinh nghiệp chướng tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, sớm được chứng quả Vô Thượng Bồ Đề.
Ngưỡng mong oai đức Tam Bảo từ bi gia hộ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tác Đại Chứng Minh.
QUÁN TƯỞNG
(Đứng dậy cắm hương lên lư, rồi vị chủ lễ chấp tay đứng thẳng và niệm)
Phật, chúng sinh tính thường rỗng lặng,
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng,
Mười phương Phật Bảo hào quang sáng ngời,
Trước Bảo Tọa thân con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
ĐẢNH LỄ
(Chủ lễ xá 3 xá, rồi đồng niệm)
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Tận Hư Không, Biến Pháp Giới Quá, Hiện, Vị Lai Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền, Thánh, Tăng Thường Trụ Tam Bảo. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Sa Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)
CHÚ ĐẠI BI
Nam-mô Ðại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)
Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo. (3 lần)
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)
KỆ MỞ KINH
Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu,
Ngàn muôn ức kiếp dễ hay đâu.
Con nay nghe thấy xin vâng giữ
Chân nghĩa Như Lai hiểu thật sâu.
SÁM KHÁNH ĐẢN
Đệ tử hôm nay, gặp ngày Khánh Đản
Một dạ vui mừng, cúi đầu đảnh lễ,
Thập phương tam thế, Điều Ngự Như Lai,
Cùng Thánh, Hiền, Tăng.
Chúng con cùng Pháp giới chúng sinh,
Bởi thiếu nhân lành, thẩy đều sa đọa;
Tham thân, chấp ngã, quên hẳn đường về,
Tình ái si mê, tù trong lục đạo,
Trăm dây phiền não, nghiệp báo khôn cùng.
Nay nhờ Phật Tổ năng nhân, rủ lòng lân mẩn,
Không nỡ sinh linh thiếu phước,
Nặng kiếp luân hồi, đêm dày tăm tối,
Đuốc tuệ rạng soi, nguyện cứu muôn loài,
Pháp dùng phương tiện, Sa-Bà thị hiện,
Thích chủng thọ sanh.
Thánh Ma Gia mộng ứng điềm lành,
Vua Tịnh Phạn phước sinh con thảo.
Ba mươi hai tướng tốt,
Vừa mười chín tuổi xuân,
Lòng từ ái cực thần,
Chí xuất trần quá mạnh,
Ngai vàng quyết tránh, tìm lối xuất gia,
Sáu năm khổ hạnh rừng già,
Bảy thất nghiêm tịnh thiền tọa,
Chứng thành đạo quả,
Hàng phục vô minh.
Ba cõi đều dậy tiếng hoan nghênh
Muôn vật thẩy nhờ ơn tế độ.
Chúng con nguyện:
Dứt bỏ dục tình ngoan cố,
Học đòi đức tính quang minh,
Cúi xin Phật Tổ giám thành,
Từ bi gia hộ,
Chúng con cùng pháp giới chúng sinh,
Chóng thành đạo quả.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (30 lần)
Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)
Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật, Bồ Tát (3 lần)
CÚNG NGỌ
(Quỳ xuống chắp tay)
CÚNG DƯỜNG
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật
Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát
Nam mô Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát
Nam mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát
Nam mô Giám Trai Sứ Giả Bồ Tát
Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật, Bồ Tát
Nam mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra tam bạt ra hồng. (3 lần)
Nam mô tô rô bà da, Đát tha nga đa da, đát điệt tha, Án tô rô tô rô, bát ra tô rô, Bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần)
Thử thực sắc hương vị,
Thượng cúng thập phương Phật,
Trung phụng chư Hiền, Thánh,
Hạ cập lục đạo phẩm,
Đẳng thí vô sai biệt,
Tùy nguyện giai bảo mãn,
Linh kim thí giả.
Đắc Vô lượng Ba La Mật.
Tam đức, lục vị,
Cúng Phật, cập Tăng,
Pháp giới hữu tình,
Phổ đồng cúng dường.
Án nga nga nẳng tam bà, Phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)
TÁN CÚNG DƯỜNG
Ngã kim phụng hiến cam lộ vị,
Lượng đẳng tu di vô quá thượng,
Sắc hương mỹ vị biến hư không,
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát. (3 lần)
Thượng cúng dĩ nhật
Đương nguyện chúng sanh,
Sở tác giai biện,
Cụ chư Phật Pháp.
TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu sa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, nên qua hết thẩy khổ ách.
Này ông Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thụ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế!
Này ông Xá Lợi Tử! Tướng “KHÔNG” của mọi Pháp, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt.
Cho nên trong “CHÂN KHÔNG” không có sắc, không có thụ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc.
Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẵn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh Niết Bàn.
Chư Phật trong ba đời cũng y vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo vô thượng Chính Đẳng Chính Giác.
Cho nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, trừ được hết thẩy khổ, chân thực không hư. Vì vậy nói ra bài chú Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Liền nói ra bài chú ấy rằng:
“Yết đế, yết đế. Ba la yết đế. Ba la tăng yết đế Bồ Đề tát bà ha”.
(1 lần, 3 tiếng chuông sang mõ)
CHÚ VÃNG SINH
Nam mô a di đa bà dạ, đa tha gia đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa đất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ sa bà hà (3 lần)
HỒI HƯỚNG
Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,
Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,
Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,
Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,
Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công-đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng-sanh,
Giai cộng thành Phật-đạo.
PHỤC NGUYỆN
(Chủ lễ)
TỰ QUY
(Tất cả đứng dậy và cùng lạy)
Con về nương tựa Phật rồi.
Cầu cho tất cả muôn loài chúng sinh.
Điều hiểu thấu rõ rành đạo cả,
Lòng Bồ-Đề mở rộng từ nay.
(1 lễ, 1 tiếng chuông)
Con về nương tựa Pháp rồi,
Cầu cho tất cả muôn loài chúng sinh.
Hiểu thấu hết nghĩa Kinh, Luật, Luận,
Trí Tuệ như biển lớn khôn lường.
(1 lễ, 1 tiếng chuông)
Con về nương tựa Tăng rồi,
Cầu cho hết thẩy muôn loài chúng sinh.
Tu sửa hết việc mình, việc chúng,
Không hề còn chút chướng ngại chi.
(1 lễ, 3 tiếng chuông)
HỒI HƯỚNG CHÚNG SINH
Cúi xin chư Phật, Thánh, Hiền,
Con xin đem hết mọi duyên phúc này,
Cầu cho con với muôn loài,
Đều cùng thành Phật con nay ơn nhờ.
(1 vái rồi lần lượt lui ra)
LỄ MỘC DỤC (tẩy trần)
Ngã kim Quán mộc chư Như Lai
Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ
Ngũ trược chúng sanh tịnh ly cấu
Đồng chứng Như Lai tịnh pháp thân
Tỳ la thành lý bất tằng Sanh
Ta la thọ giang bất tằng diệt
Bất sanh bất diệt lão Cù Đàm
Nhãn trung Khán Kiến tùng thiêm tiết
Kim triêu chánh thị tứ ngoạt bát
Tịnh Phạn Vương Gia sanh Tất Đạt
Thủy thổ Cữu Long thiên ngoại lai
Bổng túc liên hoa tùng địa phát
Án mưu ni, mưu ni tam mưu ni tát phạ hạ (3 lần)
NIỆM HƯƠNG LỄ BÁI
TỊNH PHÁP GIỚI CHƠN NGÔN Án lam toá ha (3 lần)
TỊNH TAM NGHIỆP CHƠN NGÔN
Án sa phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ thuật độ hám (3 lần)
CÚNG HƯƠNG TÁN PHẬT
Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo đám mây hương
Phưởng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sinh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ Đề kiên cố
Xa bể khổ nguồn mê
Sớm quay về bờ giác.
(Xá rồi đọc tiếp bài kệ tán Phật)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng.
Thầy dạy khắp trời, người,
Cha lành chung bốn loài.
Quy y tròn một niệm:
Dứt sạch nghiệp ba kỳ.
Xưng dương cùng tán thán,
Ức kiếp không cùng tận.
KỲ NGUYỆN Chùa Giác Lâm, hôm nay là ngày… tháng… năm… đệ tử cập chư Phật tử, Thiện nam, Tín nữ thành tâm niệm hương dị khẩu đồng âm phúng tụng DI ĐÀ pháp bảo chi tôn kinh cập niệm Phật công đức. Nguyện Thập phương Thường Trụ Tam Bảo Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Chư Đại Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng Từ bi Tiếp độ cho chư Hương Linh: đọc tên… pháp danh… năm sanh (nếu có) hưởng thọ… quá vãng ngày… tháng… năm. Hôm nay là thất… được tịnh chư nghiệp chướng tốc xả mê đồ siêu sanh Tịnh Độ.
Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo tác đại chứng minh (3 lần)
QUÁN TƯỞNG (Đứng dậy cắm hương lên lư rồi vị chủ lễ chắp tay đứng thẳng và niệm)
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
Lưới đế châu, ví đạo tràng,
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
LỄ TAM BẢO
(Vị chủ lễ xá ba xá rồi niệm lớn)Nam mô Tận hư không biến pháp giới, quá, hiện, vị lai chư Phật, tôn Pháp, Hiền thánh tăng thường trụ Tam bảo. (đồng lạy một lạy).
Nam mô Ta bà giáo chủ đại từ đại bi Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật, Đương lai hạ sanh Di lặc tôn Phật, Linh sơn hội thượng Phật Bồ Tát. (đồng lạy một lạy).
Nam mô Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật , Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (đồng lạy một lạy).
TỤNG KINH
(Toàn thể đều tụng)
Nam-mô Ðại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. (3 lần) (Toàn thể đều tụng)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.
KỆ KHAI KINH
Pháp Phật cao sâu rất nhiệm mầu,
Nghìn muôn ức kiếp dễ hay đâu.
Con nay nghe, thấy xin vâng giữ,
Chân nghĩa Như Lai hiểu thật sâu.
Pháp Phật cao sâu rất nhiệm mầu,
Nghìn muôn ức kiếp dễ hay đâu.
Con nay nghe, thấy xin vâng giữ,
Chân nghĩa Như Lai hiểu thật sâu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
PHẬT NÓI KINH A DI ĐÀ
Bấy giờ, đức Phật bảo Trưởng lão Xá lỵ Phất rằng: Từ cõi Sa bà này hướng về phương Tây, qua mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới gọi là Cực lạc, mà cõi ấy có đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện nay ngài đang thuyết pháp tại đó. (1 tiếng chuông)
Này ông Xá lỵ Phất! Cớ sao cõi kia lại gọi là Cực lạc?
Vì chúng sinh trong nước ấy không có những sự đau khổ, chỉ hưởng thụ những sự vui sướng mà thôi, nên gọi là Cực lạc. (1 tiếng chuông)
Lại nữa, ông Xá lỵ Phất! Cõi nước Cực lạc có bảy trùng câu lơn, bảy trùng lưới chăng bảy trùng hàng cây những trùng đó đều bằng bốn thứ ngọc báu, vây bọc chung quanh. Thế nên nước kia gọi là Cực lạc. (1 tiếng chuông)
Lại nữa, ông Xá lỵ Phất! Cõi nước Cực lạc có ao bằng bảy thứ ngọc báu, nước tám công đức tràn đầy trong ao ấy. Đáy ao, thuần lấy cát vàng giải khắp mặt đất. Đường và bực bốn bên ao đều hợp thành bởi vàng, bạc, lưu ly và pha lê. Trên ao có những lâu các cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, Xà cừ, Xích châu, mã não. Trong ao có những hoa sen lớn như bánh xe. Hoa sen xanh tỏa ra ánh sáng xanh, hoa sen đỏ tỏa ra ánh sáng đỏ, hoa sen trắng tỏa ra ánh sáng trắng, các hoa sen ấy đều có những hương vị thanh khiết vi diệu.
Này ông Xá lợi Phất! Cõi nước Cực lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế. (1 tiếng chuông)
Lại nữa, ông Xá lỵ Phất! Cõi nước của Đức Phật A Di Đà kia, thường trổi những âm nhạc cõi trời; đất bằng vàng ròng và ngày đêm sáu thời thường mưa xuống những hoa Mạn đà La cõi trời. Chúng sinh trong cõi này cứ sáng sớm ra họ thường đem những lẵng đựng hoa quý, cúng dàng mười vạn ức Phật ở các phương khác mà chỉ trong giây lát họ đã về ngay tới nước của họ, kịp bữa ăn sáng. Ăn xong họ đi kinh hành.
Ông Xá lỵ Phất! Cõi nước Cực lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế. (1 tiếng chuông)
Lại nữa, Ông Xá lỵ Phất! Nước kia thường có các giống chim có màu sắc sặc sỡ đẹp lạ, như: chim bạch hạc, chim khổng tước, chim anh vũ, chim Xá lỵ, chim ca lăng tần già, chim cộng mệnh. Các loài chim ấy, ngày đêm sáu thời hót ra những tiếng hòa nhã. Trong những tiếng ấy diễn tỏ những diệu pháp như năm căn, năm lực, bảy Bồ đề phận, tám Thánh đạo phận… Những diệu Pháp như thế, chúng sinh trong cõi này, nghe được pháp âm ấy rồi, hết thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Ông Xá lỵ Phất! Ông chớ nên bảo rằng các giống chim này thực do tội báo mà sinh ra. Sở dĩ thế là sao? Là vì cõi nước của đức Phật A Di Đà kia không có ba đường ác.
Ông Xá lỵ Phất! Cõi nước đức Phật A Di Đà còn không có tên đường ác, huống là có ác thực ư? Các giống chim ấy đều do đức Phật A Di Đà muốn cho pháp âm lan rộng nên Ngài biến hóa ra như vậy. (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Cõi nước đức Phật A Di Đà kia, có những làn gió hiu hiu thổi rung các hàng cây báu, cùng những mạng lưới báu, phát ra những tiếng vị diệu, ví như trăm nghìn thứ âm nhạc, đồng thời trổi lên. Ai nghe được tiếng ấy, tự nhiên đều sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Ông Xá lỵ Phất! Cõi nước đức Phật A Di Đà thành tựu công đức trang nghiêm như thế. (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Đối với ý ông nghĩ thế nào, đức Phật A Di Đà kia cớ sao lại có danh hiệu là A Di Đà?
Ông Xá lỵ Phất! Đức Phật A Di Đà kia có vô lượng ánh sáng, soi khắp cõi nước mười phương mà không bị chướng ngại gì cả, vì vậy Ngài có tên hiệu là A Di Đà. Lại nữa, ông Xá lỵ Phất! Thọ mệnh của đức Phật A Di Đà kia cùng thọ mệnh của nhân dân nơi cõi Ngài thì vô lượng vô biên vô số kiếp, nên gọi là A Di Đà.
Ông Xá lỵ Phất! Từ khi đức Phật A Di Đà thành Phật tới nay đã mười kiếp rồi. (1 tiếng chuông)
Lại nữa, ông Xá lỵ Phất! Đức Phật A Di Đà kia có vô lượng vô biên đệ tử Thanh văn, mà các vị đều là bậc A la Hán. Đệ tử Thanh văn của Ngài rất đông, không thể đếm, tính mà biết hết được. Cả đến chúng Bồ tát cũng nhiều như thế.
Ông Xá lỵ Phất! Cõi nước đức Phật A Di Đà kia thành tựu công đức trang nghiêm như thế. (1 tiếng chuông)
Lại nữa ông Xá lỵ Phất! Các chúng sinh trong mười phương sinh sang cõi nước Cực lạc đều là các vị chứng ngôi bất thoái chuyển, mà trong đó có nhiều vị nhất sinh bổ xứ. Số lượng các vị ấy rất nhiều, không thể đếm, tính mà biết hết được, song chỉ có thể dùng chữ “vô lượng, vô biên, vô số” để nói được mà thôi. (1 tiếng chuông)
Này ông Xá lỵ Phất! Chúng sinh trong cõi Sa bà được nghe kinh này nên phát nguyện, nguyện sinh sang cõi nước Cực lạc kia. Sở dĩ thế là sao? Vì được cùng hội họp tại một nơi với các bậc thượng thiện nhân như thế. (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Không thể lấy một chút nhân duyên của thiện căn phúc đức, được sinh sang nước Cực lạc kia! Ông Xá lỵ Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói về đức Phật A Di Đà, cố gắng chuyên trì danh hiệu Ngài: hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, nhất tâm chẳng loạn, thì người ấy khi lâm chung sẽ được đức Phật A Di Đà cùng các bậc Thánh, hiện ra trước người ấy, người ấy trong khi chết tâm không điên đảo, liền được sinh sang cõi nước Cực lạc của đức Phật A Di Đà.
Này ông Xá lỵ Phất! Tôi thấy sự lợi ích ấy, nên tôi nói ra lời này: “Nếu có chúng sinh nào, được nghe nói về kinh này nên phát nguyện, nguyện sinh sang cõi nước Cực lạc kia.” (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Như tôi hiện nay đang khen ngợi sự lợi lạc trong công đức không thể nghĩ bàn được của đức Phật A Di Đà, thì phương Đông cũng có đức Phật A súc Bệ, đức Phật Tu Di Tướng, đức Phật Đại tu Di, đức Phật Tu di Quang, đức Phật Diệu Âm… các đức Phật như thế nhiều như số cát sông Hằng, các Ngài đều ở tại nước các Ngài, xuất ra tướng quảng tràng thiệt, che khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, nói ra lời thành thực rằng: “Chúng sinh các ngươi nên tin sự khen ngợi về công đức không thể nghĩ bàn được của kinh Nhất thiết Chư Phật sở hộ niệm này.” (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Thế giới phương Nam: có đức Phật Nhật nguyệt Đăng, đức Phật Danh văn Quang, đức Phật Đại Diệm Kiên, đức Phật Tu Di Đăng, đức Phật Vô Lượng Tinh Tiến, các đức Phật như thế nhiều như số cát sông Hằng, các Ngài đều ở tại nước các Ngài, xuất ra tướng quảng tràng thiệt, che khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, nói ra lời thành thực rằng: “Chúng sinh các ngươi nên tin sự khen ngợi về công đức không thể nghĩ bàn được của kinh Nhất thiết Chư Phật sở hộ niệm này.” (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Thế giới phương Tây: có đức Phật Vô Lượng Thọ, đức Phật Vô Lượng Tướng, đức Phật Vô Lượng Tràng, đức Phật Đại Quang, đức Phật Đại Minh, đức Phật Bảo Tướng, đức Phật Tịnh Quang, các đức Phật như thế nhiều như số cát sông Hằng, các Ngài đều ở tại nước các Ngài, xuất ra tướng quảng tràng thiệt, che khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, nói ra lời thành thực rằng: “Chúng sinh các ngươi nên tin sự khen ngợi về công đức không thể nghĩ bàn được của kinh Nhất thiết Chư Phật sở hộ niệm này.” (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Thế giới phương Bắc: có đức Phật Diệm Kiên, đức Phật Tối Thắng Âm, đức Phật Nan Trữ, đức Phật Nhật Sinh, đức Phật Võng Minh, các đức Phật như thế nhiều như số cát sông Hằng, các Ngài đều ở tại nước các Ngài, xuất ra tướng quảng tràng thiệt, che khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, nói ra lời thành thực rằng: “Chúng sinh các ngươi nên tin sự khen ngợi về công đức không thể nghĩ bàn được của kinh Nhất thiết Chư Phật sở hộ niệm này.” (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Thế giới Hạ phương: có đức Phật Sư Tử, đức Phật Danh Văn, đức Phật Danh Quang, đức Phật Đạt Ma, đức Phật Pháp Tràng, đức Phật Trì Pháp, các đức Phật như thế nhiều như số cát sông Hằng, các Ngài đều ở tại nước các Ngài, xuất ra tướng quảng tràng thiệt, che khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, nói ra lời thành thực rằng: “Chúng sinh các ngươi nên tin sự khen ngợi về công đức không thể nghĩ bàn được của kinh Nhất thiết Chư Phật sở hộ niệm này.” (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Thế giới Thượng phương: có đức Phật Phạm Âm, đức Phật Tú Vương, đức Phật Hương Thượng, đức Phật Hương Quang, đức Phật Đại Diệm Kiên, đức Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, đức Phật Sa La Thụ Vương, đức Phật Bảo Hoa Đức, đức Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, đức Phật Như Tu Di Sơn, các đức Phật như thế nhiều như số cát sông Hằng, các Ngài đều ở tại nước các Ngài, xuất ra tướng quảng tràng thiệt, che khắp ba nghìn Đại thiên thế giới, nói ra lời thành thực rằng: “Chúng sinh các ngươi nên tin sự khen ngợi về công đức không thể nghĩ bàn được của kinh Nhất thiết Chư Phật sở hộ niệm này.” (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Đối với ý ông nghĩ thế nào cớ sao gọi là kinh “Nhất thiết Chư Phật sở hộ niệm”? Này ông Xá lỵ Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, nghe được kinh này mà thụ trì, và nghe được tất cả danh hiệu chư Phật sáu phương thì các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy, đều được hết thảy chư Phật hộ niệm và đều chứng được địa vị bất thoái chuyển ở ngôi Vô thượng chính đẳng chính Giác. Vì vậy, ông Xá lỵ Phất! Các ông đều nên tin nhận lời nói của Tôi và lời nói của chư Phật. (1 tiếng chuông)
Này ông Xá lỵ Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện là muốn sinh sang nước của đức Phật A Di Đà, thì các người ấy đều được địa vị bất thoái chuyển ở ngôi vô thượng chính đẳng chính giác, ở trong cõi nước kia, hoặc là đã sinh sang, hoặc là đang sinh sang, hay là sẽ sinh sang. Vì vậy ông Xá lỵ Phất! Các Thiện nam tử, Thiện nữ nhân, nếu ai có lòng tin, nên phát nguyện sinh sang cõi nước kia. (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Như tôi hiện nay đang khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn được của chự Phật, thì chư Phật tại sáu phương kia cũng khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn được của tôi, mà các Ngài nói ra lời nói này: “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hay làm những việc hiếm có và rất khó, Ngài ở trong cõi nước Sa bà thuộc về đời có năm thứ ác trược như kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mệnh trược, mà Ngài chứng được ngôi vô thượng chính đẳng chính giác. Được đạo quả rồi, Ngài vì các chúng sinh nói ra giáo pháp mà hết thảy thế gian khó tin này.” (1 tiếng chuông)
Ông Xá lỵ Phất! Các ông nên biết rằng tôi ở trong đời có năm thứ ác trược làm việc khó tin này mà chứng được ngôi vô thượng chính đẳng chính giác, lại vì hết thảy thế gian nói ra giáo pháp khó tin này, ấy là rất khó. (1 tiếng chuông)
Đức Phật nói kinh này rồi ông Xá lỵ Phất cùng các vị Tỷ khưu, và hết thảy Thiên, Nhân, A tu la… trong thế gian nghe đức Phật nói pháp, vui mừng tin, nhận, làm lễ mà lui. (1 tiếng chuông)
Chân ngôn bạt hết thẩy căn bản nghiệp chướng được sinh sang Tịnh độ.
Nẳng mồ a di đá bà dạ, đá tha già đá dạ, đá địa dạ tha, a di lị đô bà tỳ, a di lỵ đá tất đam bà tỳ, a di lỵ đá tỳ ca lan đế, a di lỵ đá tỳ ca lan đá, già di nhị già già na, chỉ đá ca lệ sa bà ha. (3 lượt 3 tiếng chuông)
Hải hội Liên trì,
Quán Âm, Thế Chí,
Ngồi trên liên đài.
Tiếp dẫn chúng sinh,
Cùng lên kim giai,
Nguyện lớn rộng mở.
Mong khỏi trần ai.
Nam mô Liên Trì hội thượng Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lượt 3 tiếng chuông)
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Quán tự tại Bồ tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức, diệt phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý, vô sắc thinh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố Bồ Đề Tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn, tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố,đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. (3 lần)
CÚNG NGỌ
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật
Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát
Nam mô Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát
Nam mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát
Nam mô Giám Trai Sứ Giả Bồ Tát
Nam mô đạo tràng hội thượng Phật, Bồ Tát
Nam mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra tam bạt ra hồng. (3 lần hoặc 7 lần)Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp
Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật
Nam mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật
Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát
Nam mô Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát
Nam mô Lịch Đại Tổ Sư Bồ Tát
Nam mô Giám Trai Sứ Giả Bồ Tát
Nam mô đạo tràng hội thượng Phật, Bồ Tát
Nam mô tô rô bà da, Đát tha nga đa da, đát điệt tha, Án tô rô tô rô, bát ra tô rô, Bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần)
Thử thực sắc hương vị,
Thượng cúng thập phương Phật,
Trung phụng chư Hiền, Thánh,
Hạ cập lục đạo phẩm,
Đẳng thí vô sai biệt,
Tùy nguyện giai bảo mãn,
Linh kim thí giả.
Đắc vô lượng Ba La Mật.
Tam đức, lục vị,
Cúng Phật, cập Tăng,
Pháp giới hữu tình,
Phổ đồng cúng dường.
Án nga nga nẳng tam bà, Phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)
TÁN CÚNG DƯỜNG
Ngã kim phụng hiến cam lộ vị,
Lượng đẳng tu di vô quá thượng,
Sắc hương mỹ vị biến hư không,
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát. (3 lần)
Thượng cúng dĩ nhật
Đương nguyện chúng sanh,
Sở tác giai biện,
Cụ chư Phật Pháp.
Quy y linh
(Phần chữ nghiêng dành cho Chủ Lễ) Hương Linh Quy Y Phật Hương Linh Quy Y Pháp
Hương Linh Quy Y Tăng
Hương Linh Quy Y Phật, đấng phước trí vẹn toàn
Hương Linh Quy Y Pháp, đạo thoát ly tham dục
Hương Linh Quy Y Tăng, bậc tu hành cao tột
Hương Linh Quy Y Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y thiên, thần, quỷ, vật.
Hương Linh Quy Y Pháp, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y ngoại đạo tà giáo.
Hương Linh Quy Y Tăng, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y tổn hữu, ác đảng.
Hương Linh đã Quy Y Phật
Hương Linh đã Quy Y Pháp
Hương Linh đã Quy Y Tăng
Hương Linh vốn tạo các vọng nghiệp
Đều do vô thỉ tham sân si
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra
Hương Linh thảy đều xin sám hối
(Một mình Vị chủ lễ niệm lớn)
. Nguyện tận hư không biến pháp giới, quá, hiện, vị lai Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trú Tam Bảo từ bi tiếp độ Hương Linh vãng sanh cực lạc quốc. (đồng lạy một lạy)
Hương Linh vốn tạo các vọng nghiệp
Đều do vô thỉ tham sân si
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra
Hương Linh thảy đều xin sám hối
(Một mình Vị chủ lễ niệm lớn)
. Nguyện Ta Bà giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát từ bi tiếp độ Hương Linh vãng sanh cực lạc quốc. (đồng lạy một lạy)
Hương Linh vốn tạo các vọng nghiệp
Đều do vô thỉ tham sân si
Từ thân, miệng, ý phát sinh ra
Hương Linh thảy đều xin sám hối
(Một mình Vị chủ lễ niệm lớn)
. Nguyện Tây Phương giáo chủ Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát từ bi tiếp độ Hương Linh vãng sanh cực lạc quốc. (đồng lạy một lạy) (đánh 3 tiếng chuông chắp tay đồng niệm)
Thân Phật Di-Đà màu sắc vàng,
Tướng tốt sáng ngời không gì sánh.
Bạch hào uyển-chuyển năm Tu di,
Mắt biết lắng trong bốn biển lớn.
Vô số hóa Phật trong hào quang,
Chúng hóa Bồ tát cũng vô biên.
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh,
Chín phẩm đều cùng lên ngàn giác.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật. (3 lượt 3 tiếng chuông)
Nam mô A Di Đà Phật. (10 hay 1 tràng 3 tiếng chuông)
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 hay 10 lượt 1 tiếng chuông)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 hay 10 lượt 1 tiếng chuông)
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 hay 10 lượt 1 tiếng chuông)
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ Tát. ( 3 hay 10 lượt 1 tiếng chuông)
(Cùng quỳ đọc bài phát nguyện)
Con nay vì hết thảy bốn ơn ba cõi, pháp giới chúng sinh, nguyện dứt bỏ hết ba chướng, xin chí thành phát nguyện. (1 lễ 3 tiếng chuông)
HỒI HƯỚNG
Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,
Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,
Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,
Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,
Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công-đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng-sanh,
Giai cộng thành Phật-đạo.
Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,
Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,
Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,
Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,
Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công-đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng-sanh,
Giai cộng thành Phật-đạo.
PHỤC NGUYỆN
Hôm nay là ngày… tháng… năm… tại chùa Giác Lâm Đệ tử cập chư Phật tử Thiện nam, Tín nữ thành tâm phúng tụng DI ĐÀ pháp bảo chi tôn kinh cập niệm Phật công đức hồi hướng kỳ siêu cho chư hương linh… (đọc sớ kỳ siêu tên họ… năm sinh… pháp danh… hưởng thọ… quá vãng… ngày… tháng… năm…) được tịnh chư nghiệp chướng tốc xả mê đồ siêu sanh lạc cảnh.
Hựu nguyện: Kỳ an cho chư Phật tử, Thiện nam, Tín nữ… (đọc sớ kỳ an: tên tuổi) tiêu trừ nghiệp chướng tật bệnh tội khiên tai nạn hoạch ương nhất thiết ác duyên tất giai tiêu diệt, sở cầu như ý, sở nguyện tùng tâm tăng long phước thọ
Phổ nguyện: Âm siêu dương thới pháp giới chúng sanh giai cộng thành Phật đạo.
Nam mô A Di Đà Phật
Hôm nay là ngày… tháng… năm… tại chùa Giác Lâm Đệ tử cập chư Phật tử Thiện nam, Tín nữ thành tâm phúng tụng DI ĐÀ pháp bảo chi tôn kinh cập niệm Phật công đức hồi hướng kỳ siêu cho chư hương linh… (đọc sớ kỳ siêu tên họ… năm sinh… pháp danh… hưởng thọ… quá vãng… ngày… tháng… năm…) được tịnh chư nghiệp chướng tốc xả mê đồ siêu sanh lạc cảnh.
Hựu nguyện: Kỳ an cho chư Phật tử, Thiện nam, Tín nữ… (đọc sớ kỳ an: tên tuổi) tiêu trừ nghiệp chướng tật bệnh tội khiên tai nạn hoạch ương nhất thiết ác duyên tất giai tiêu diệt, sở cầu như ý, sở nguyện tùng tâm tăng long phước thọ
Phổ nguyện: Âm siêu dương thới pháp giới chúng sanh giai cộng thành Phật đạo.
Nam mô A Di Đà Phật
TAM TỰ QUY
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)
HỒI HƯỚNG
(Xá 1 xá rồi đọc tiếp):
Nguyện đem công đức này, (Xá 1 xá rồi đọc tiếp):
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sinh,
Đều trọn thành Phật đạo.
(Xá 3 xá rồi lui ra).
NGHI THỨC CÚNG VONG
CHỦ LỄ XƯỚNG
Tang chủ tựu vi linh tiền nguyện hương
Thượng hương
Lễ hương linh tứ bái (4 lạy)
Đánh 3 hồi chuông nhỏ.
Tang chủ tựu vi linh tiền nguyện hương
Thượng hương
Lễ hương linh tứ bái (4 lạy)
Đánh 3 hồi chuông nhỏ.
CHỦ LỄ THỈNH LINH
Tây phương Tịnh Độ hữu liên khai, linh giả tùng tư qui khứ lai; nhất niệm hoa khai than kiến Phật, vĩnh vô bát nạn cập tam tai. Dĩ thử chấn linh than triệu chư hương linh bất muội diêu văn tri trượng thừa Tam Bảo lực gia trì thử thực kim thời lai phó hội.
Tây phương Tịnh Độ hữu liên khai, linh giả tùng tư qui khứ lai; nhất niệm hoa khai than kiến Phật, vĩnh vô bát nạn cập tam tai. Dĩ thử chấn linh than triệu chư hương linh bất muội diêu văn tri trượng thừa Tam Bảo lực gia trì thử thực kim thời lai phó hội.
Hương hoa thỉnh, hương đang triệu thỉnh. Tam thỉnh chư hương linh dĩ lai thọ thử trai tu phổ cúng dường y nhiên thỉnh tọa thính văn kinh, điển kinh văn Bồ Tát Ma Ha Tát.
TỤNG DƯƠNG CHI
Dương chi tịnh thủy biến sái tam thiên
Tánh không bát đức lợi nhân thiên
Pháp giới quãng tăng diên
Diệt tội tiêu khiên, hoả diệm hoá hồng liên
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
TỤNG ĐẠI BI (1 biến)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.
Tang chủ kiền thiền trà châm sơ tuần
Lễ hương linh nhị bái (2 lạy)
Lễ hương linh nhị bái (2 lạy)
TỤNG BÁT NHÃ (1 lần)
Quán tự tại Bồ tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức, diệt phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý, vô sắc thinh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố Bồ Đề Tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn, tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố,đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. (3 lần)
CHÚ VÃNG SANH (3 lần)
Nẳng mồ a di đá bà dạ, đá tha già đá dạ, đá địa dạ tha, a di lị đô bà tỳ, a di lỵ đá tất đam bà tỳ, a di lỵ đá tỳ ca lan đế, a di lỵ đá tỳ ca lan đá, già di nhị già già na, chỉ đá ca lệ sa bà ha.
Tang chủ kiền thiền hiến phạn cập châm trà (tang chủ dâng cơm, dâng trà)
TỤNG BIẾN THỰC - BIẾN THỦY CHƠN NGÔN (3 lần)
Nam mô tô rô bà da, Đát tha nga đa da, đát điệt tha, Án tô rô tô rô, bát ra tô rô, Bát ra tô rô ta bà ha. (3 lần)
CHỦ LỄ XƯỚNG
Đây bát cơm đầy chư tang chủ kính dâng, chư hương linh ơi, đây ngọc với đây long, đây tình còn động trong thương nhớ, dương trần âm cảnh đã cách ngăn.
Thượng phạn - Hiến trà
Tang chủ kiền thiền lễ hương linh nhị bái (2 lạy)
Đây bát cơm đầy chư tang chủ kính dâng, chư hương linh ơi, đây ngọc với đây long, đây tình còn động trong thương nhớ, dương trần âm cảnh đã cách ngăn.
Thượng phạn - Hiến trà
Tang chủ kiền thiền lễ hương linh nhị bái (2 lạy)
TỤNG BÀI CÚNG VONG Nam mô Đa Bảo Như Lai
Nam mô Bảo Thắng Như Lai
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai
Nam mô Quảng Bác thân Như Lai
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai
Nam mô Cam lồ Vương Như Lai
Nam mô A Di Đà Như Lai
Thần chú gia trì tịnh pháp thực
Phổ thí hà sa chư hương linh
Nguyện giai bảo mãn xả san tham
Tốc thoát u minh sanh tịnh độ
Quy y Tam bảo phát bồ đề
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo
Công đức vô biên tận vị lai
Nhứt thiết hương linh đồng pháp thực
Thần chú gia trì pháp thí thực
Phổ thí hà sa chư hương linh
Nguyện giai bảo mãn xả san tham
Tốc thoát u minh sanh tịnh độ
Quy y Tam bảo phát bồ đề
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo
Công đức vô biên tận vị lai
Nhứt thiết hương linh đồng pháp thực
Thần chú gia trì cam lồ thủy
Phổ thí hà sa chư hương linh
Nguyện giai bảo mãn xả san tham
Tốc thoát u minh sanh tịnh độ
Quy y Tam bảo phát bồ đề
Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo
Công đức vô biên tận vị lai
Nhứt thiết hương linh đồng pháp thực
Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần)
Tang chủ kiền thiền trà châm tam tuần
Lễ hương linh nhị bái (2 lạy)
HỒI HƯỚNG
Di Đà giáo chủ Địa Tạng năng nhân, thơ kim sắc túng vị đề huề phóng ngọc hào quang thuỳ từ tiếp độ chư hương linh… (đọc sớ cúng linh kỳ siêu) tên họ… pháp danh… hưởng thọ… quá vãng ngày… tháng… năm… thất… Nguyện hương linh, hồn siêu cõi tịnh, nghiệp dứt chốn trần ai, hoa sen chin phẩm vừa khai, Phật bèn thọ ký cho nghe nhứt thừa. Cầu xin chư Phật tiếp đưa hồn về Cực Lạc say sưa pháp mầu.
Phổ nguyện: Nhất thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu, nguyện chư hương linh đắc độ cao siêu, kỳ gia quyến hàm triêm lợi lạc. Âm siêu dương thới pháp giới chúng sanh giai cộng thành Phật đạo.
Nam mô A Di Đà Phật
TAM TỰ QUY
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển.
Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.
CHỦ LỄ XƯỚNG
Tang chủ kiền thiền trà châm chung tuần.
Lễ chư hương linh tứ bái (4 lạy).
Chính tôi được nghe như vầy: Lần chuyển bánh xe chánh pháp đầu tiên, Đức Thế Tôn độ tôn giả Kiều-trần-như và lần thuyết pháp sau cùng, Ngài độ tôn giả Tu-bạt-đà-la. Những người có thể hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả. Vào đêm cuối trước ngày Niết-bàn vô dư, giữa rừng Sa-la, dưới cây song thọ, không gian thật vắng lặng, yên tĩnh, Đức Phật đã nhắn nhủ những điều cốt lõi của chánh pháp như sau. O
Này các đệ tử, sau khi Như Lai qua đời, các vị phải trân trọng, cung kính giới luật như kẻ nghèo hèn được giàu có, như kẻ đui mù được sáng mắt. Phải biết rằng giới luật là bậc Thầy tối thượng. Dẫu có sống thêm ở đời bao nhiêu năm nữa, Như Lai cũng không ngoài mục đích răn dạy các vị về giới luật ấy thôi. O
Người giữ giới thì không được kinh doanh, thương mại, xây dựng nhà cửa, cày cấy ruộng vườn, đầu tư nông nghiệp, thuê người giúp việc, theo kiểu thế tục. Không được chặt đốn cây cối, đào đất, móc hang, điều chế dược liệu, đoán quẻ tốt xấu, xem sao đoán mạng, nghiên cứu địa lý, tìm tòi hưng suy, hay coi lịch đoán số. O
Các vị nên sống tiết chế thân mạng, ăn uống điều độ, duy trì nếp sống thanh cao, giải thoát. Không tham dự chính trị, lãnh sứ mạng liên lạc, thông tin. Không được luyện bùa chú, chế linh dược, giao hảo người quyền quý, kết thân kẻ ngạo mạn. Cần phải giữ tâm chân thật, sống chánh niệm và tỉnh thức trong từng phút giây, mong cầu đạo quả giải thoát. Không được che dấu lỗi lầm, bày điều mê hoặc để thu hút quần chúng. Phải sống ít muốn, biết đủ đối với bốn phẩm vật cúng dường. Sống vừa đủ để hành đạo, không cất chứa tài sản và tiền bạc. O
Như Lai vừa nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới luật đó là căn bản, là gốc rễ của giải thoát. Nhờ giữ giới trang nghiêm, thiền định và trí tuệ phát sanh, có thể tiêu diệt sự đau khổ. Thế nên các vị hãy giữ gìn giới luật một cách trọn vẹn. Người giữ giới thanh tịnh sẽ nuôi lớn pháp lành. Người thiếu mất giới thì không thể phát sinh công đức. O
Này các đệ tử, các vị phải chế ngự năm giác quan không để chúng dong ruổi theo trần cảnh, dục lạc. Người tu phải như chú mục đồng cầm roi chăn, không để trâu dẫm đạp lúa mạ của người. Một khi các vị buông lung năm giác quan, không những các vị không chế ngự được năm thứ dục lạc, mà các vị cũng không thể dừng được vòng cương toả của phóng túng, như con ngựa chứng nếu không dây cương, nó sẽ lao xuống hầm hố. Nạn khổ của giặc cướp chỉ có một đời, trong khi nạn giặc giác quan làm chúng sanh đau khổ nhiều kiếp. Tai họa của nó vô cùng nguy hiểm. Các vị phải cẩn thận. O
Thế nên, người có trí cần phải chế ngự các giác quan chứ không phục tùng nó; giữ gìn chúng như là canh chừng giặc cướp, không để chúng hoành hành, thao túng.
Này các đệ tử, trong các giác quan của con người, ý là quan trọng nhất. Các vị phải thận trọng chế ngự tâm ý mình. Tâm ý rất đáng sợ, nguy hiểm còn hơn thú dữ, rắn độc, thậm chí nguy hại hơn cả nạn hỏa hoạn. Cũng như có người mải mê cầm giữ chén mật trên tay và quên đi hầm hố trên đường, sẽ bị vấp ngã. Cũng như voi say mà không có móc sắt; như khỉ vượn gặp được cây rừng tha hồ mà chuyền nhảy, muốn chế ngự chúng thì thật là khó. Vì vậy các vị siêng năng chế ngự tâm mình, để giữ gìn tất cả các pháp thiện. Khi tâm được chế ngự một chỗ thì không việc gì không thành. O
Này các đệ tử, khi thọ dụng phẩm vật cúng dường, các vị nên quan niệm như uống thuốc. Ngon không ham, dở không chê. Ăn uống chỉ để cho khỏi đói khát. Như ong hút mật trong hoa, chỉ lấy mùi vị, không làm tổn thương hương sắc. Người xuất gia cũng vậy: thọ dụng sự cúng dường để đủ sức khoẻ tu tập, không được ham cầu quá nhiều, làm tổn thất tín tâm của tín thí. Hãy như người trí biết lượng sức kéo và chịu đựng của trâu, không nên dùng trâu quá sức, đến nỗi kiệt lực. O
Này các đệ tử, ban ngày thì nỗ lực tu tập pháp lành, không để thời gian trôi qua uổng phí. Đầu hôm, cuối đêm cũng không luống bỏ. Giữa đêm tụng niệm, tu trì. Đừng vì chuyện ngủ nghỉ mà để cuộc đời trôi qua vô ích. Hãy tâm niệm rằng ngọn lửa vô thường đang đốt cháy thế gian, để tự tinh tấn độ mình, khắc phục sự lười biếng, ngủ nghỉ. Giặc phiền não luôn rình rập giết các vị, còn nguy hiểm hơn kẻ thù, làm sao các vị có thể mặc tình ngủ nghỉ mà không cảnh giác ! Phiền não ngủ trong tâm người cũng như rắn độc nằm trong nhà, phải dùng móc sắt giới hạnh mà lôi kéo nó ra gấp. Rắn độc ra rồi ta mới an tâm ngủ nghỉ. Rắn độc chưa ra mà mải mê ngủ nghỉ thì thật là người không biết hổ thẹn. O
Này các đệ tử, sự hổ thẹn là trang sức đẹp nhất trong mọi trang sức. Sự hổ thẹn có khả năng chế ngự mọi thứ bất thiện và phi pháp của con người. Thế nên hãy sống với tâm niệm hổ thẹn, đừng bao giờ lãng quên đức tính ấy. Mất tâm hổ thẹn là mất tất cả công đức. Có hổ thẹn là có tất cả thiện pháp. Không hổ thẹn thì có khác chi loài cầm thú. O
Này các đệ tử, nếu có ai xúc phạm, thương tổn thân thể các vị, các vị nên kiềm chế tâm mình, đừng để lửa sân hận thiêu đốt. Lại phải giữ lời ăn, tiếng nói, đừng buông lời ác độc để trả đũa ai. Tâm sân hận trỗi dạy sẽ làm băng hoại đạo nghiệp, cháy hết công đức tu tập. Đức tánh của kham nhẫn thì giữ giới và khổ hạnh cũng không thể sánh bằng. Thực hành đức nhẫn mới xứng danh là bậc Thượng Nhân có sức mạnh. Người nào chưa có thể chịu đựng sự nhục mạ một cách hoan hỷ, như uống cam lộ, thì chưa thể xứng danh là người vào đạo có trí. Sự sân hận sẽ thiêu hủy tất cả pháp lành, nó nguy hiểm hơn lửa dữ. Các vị phải canh phòng cẩn mật, đừng cho sân hận xâm nhập. Trong các loại giặc cướp công đức thì sân hận là nguy hiểm bậc nhất. Người thế gian sống thọ hưởng dục lạc, thiếu phương pháp chế ngự, nếu có sân hận còn có thể tha thứ được. Người xuất gia hành đạo loại bỏ mọi thứ vui của đời mà không loại bỏ được sân hận thì thật đáng trách, cũng giống như bầu trời quang đãng mà có sấm sét nổi lên là điều không thích hợp. O
Này các đệ tử, các vị hãy tự xoa đầu mình và ghi nhớ rằng: các vị đã bỏ tất cả các mỹ phẩm và trang sức của thế gian, khoác trên mình chiếc áo cà-sa hoại sắc, sống bằng cách khất thực. Khi nào tâm lý kiêu mạn, cao ngạo nổi lên thì lập tức chế ngự nó. Kiêu ngạo là tánh xấu mà thế nhân còn không nên có, huống chi là người xuất gia vì đạo giải thoát, sống bằng khất thực hay sao! O
Này các đệ tử, tâm lý dua nịnh trái ngược hoàn toàn với đạo giải thoát. Thế nên, các vị hãy huấn luyện tâm cho thật chất trực. Nên biết rằng: Dua nịnh là điều dối trá mà người xuất gia không nên có. Phải làm cho tâm ý đoan chánh, phát huy đức tánh trung trực. Đó là con đường vào đạo. O
Này các đệ tử, các vị nên biết rằng người nào tham muốn nhiều thì nhu cầu lợi dưỡng cũng nhiều, do vậy mà đau khổ càng tăng. Người ít muốn thì không ham cầu, không đắm nhiễm nên không có tệ hại ấy. Chỉ với lợi ích ấy thôi cũng đủ để các vị phải trau dồi, thực tập, huống là khi hạnh này còn có công năng phát triển các công đức ! Người ít muốn thì không lấy lòng người bằng cách dua nịnh, lòn cúi và cũng không bị các giác quan sai sử, thao túng. Hành giả ít muốn, tâm ý được thanh thản, không còn những ưu tư, phiền muộn, gặp việc thì đủ nghị lực để ứng phó, không việc gì không làm được. Nói chung, sống hạnh ít muốn tất gần Niết-bàn. O
Này các đệ tử, nếu các vị muốn giải thoát mọi đau khổ thì nên thường xuyên tu tập quán biết đủ. Pháp biết đủ là cơ sở của sự an lạc, hạnh phúc và sung mãn. Người biết đủ dẫu nằm trên đất vẫn thấy an lạc. Người không biết đủ dẫu sống ở thiên đường vẫn chưa thấy toại nguyện. Không biết đủ tuy giàu mà rất nghèo. Biết đủ thì tuy nghèo nhưng rất giàu có. Người không biết đủ là kẻ nô lệ của năm thứ dục lạc thấp kém và còn là tấm bia đời đáng thương xót đối với hành giả biết đủ. O
Này các đệ tử, muốn đạt đạo tịch tịnh, vô vi, an lạc, các vị phải xa lìa những chốn huyên náo, sống một mình ở những nơi an nhàn, thanh vắng. Người ở chỗ yên tĩnh thì trời Đế-thích và chư Thiên đều kính trọng. Vì thế, các vị nên xa lìa hội chúng, sống đơn độc thư thái và cắt đứt gốc rễ đau khổ bằng tư duy trí tuệ. Người thích hội chúng thì bị hội chúng nhiễu loạn, như cây cổ thụ mà có nhiều chim tụ tập thì có thể bị hư cành. Thế gian trói buộc con người trong đau khổ cũng giống như con voi già bị sa lầy, khó mong thoát khỏi. Đó là hạnh siêu thoát, các vị cần ghi tâm. O
Này các đệ tử, nỗ lực tinh tấn thì không việc gì khó khăn. Thế nên các vị phải siêng năng, tinh tấn như giọt nước thường nhỏ có thể xuyên thủng đá. Người tu hành mà biếng nhác thì khác nào như người cọ cây lấy lửa, cây chưa kịp nóng đã nghỉ, dầu tha thiết được lửa, lửa cũng không vì thế mà có được. Hãy siêng năng tinh tấn không dừng. O
Này các đệ tử, thực ra cầu cạnh thiện tri thức hay người trợ lực không bằng tự mình đề cao chánh niệm, tỉnh thức. Có chánh niệm thì giặc phiền não không thể xâm nhập được.
Thế nên các vị phải sống trong sự nhiếp niệm. Mất chánh niệm là đồng nghĩa với mất công đức. Có được chánh niệm bền vững thì dù sống trong môi trường ngũ dục cũng chẳng hề gì, như người chiến sĩ vào trận có mặc áo giáp thì không còn sợ gì nữa. O
Này các đệ tử, nhiếp phục được tâm ý là làm cho tâm an trụ vào định. Tâm trụ thiền định thì sẽ thấu triệt được trạng thái sinh diệt, chuyển biến của thế giới. Các vị phải tinh tấn tu tập thiền định. Tâm định thì trạng thái chao động, tán loạn sẽ tiêu mất cũng như người biết cách giữ nước thì phải bảo vệ tốt đê điều. Cũng vậy, muốn có nước trí tuệ, các vị phải khéo tu tập thiền định, không để cho rỉ chảy. O
Này các đệ tử, có trí tuệ thì không có tham trước, luôn luôn tự tỉnh thức và tự dò xét, nhờ đó người ấy có khả năng giải thoát trong giáo pháp của Như Lai. Nếu không có trí tuệ thì không xứng danh là bậc xuất gia. Trí tuệ là chiếc thuyền vững chắc vượt qua biển sanh tử, là ngọn đèn sáng chói trong hắc ám vô minh, là dược liệu thần y của mọi bịnh tật và là lưỡi búa bén chặt đứt cây phiền não. Vì thế, các vị cần trau dồi tuệ giác “văn, tư, tu” để tăng trưởng lợi ích. Người có trí tuệ soi chiếu thì dẫu là mắt thịt vẫn là người chánh kiến, thấy rõ bản chất mọi vật. O
Này các đệ tử, hý luận chỉ làm cho tâm trí rối loạn. Người xuất gia mà sống hý luận thì không thể đạt được tuệ giác giải thoát. Vì thế các vị phải nhanh chóng từ bỏ vĩnh viễn tâm lý hý luận, vô ích. Diệt trừ các hý luận tạp loạn mới có thể đạt được an lạc tịch diệt. O
Này các đệ tử, hãy thường xuyên nhớ đến các công đức để từ bỏ tất cả mọi phóng dật, như là tránh xa bọn giặc cướp tài sản thánh. Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã tuyên nói chánh pháp lợi ích rốt ráo. Về phần mình, các vị hãy nỗ lực tinh tấn thường xuyên, đừng để cuộc đời trôi qua vô ích, sau này ăn năn, hối hận đã muộn. Như Lai như là vị lương y, rõ biết bịnh lý, cho toa thuốc hợp bịnh trạng từng người. Uống hay không uống không phải là lỗi của lương y. Như Lai lại cũng như người chỉ đường, chỉ rõ đâu là con đường nên đi và hướng đến giải thoát. Biết rõ đường lành mà không chịu cất bước lên đường không phải là lỗi của vị đạo sư! O
Này các đệ tử, đối với bốn chân lý thánh, nếu có chỗ nào chưa thấu đáo, thì nên thưa hỏi, Như Lai sẽ chỉ bày cho các con. Thế Tôn khuyên nhắc ba lần như vậy, bốn chúng đều im lặng, không ai còn thắc mắc. O
Lúc ấy, tôn giả A-nậu-lâu-đà bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn, dù cho mặt trăng có thể trở nên nóng, mặt trời có trở nên lạnh, nhưng Bốn Chân Lý Thánh mà Như Lai đã dạy không thể nào thay đổi được. Khổ đế là thực trạng đau khổ của cuộc đời: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thù ghét mà phải gặp mặt là khổ, thương yêu mà phải chia lìa là khổ, chấp vào năm nhóm nhân thể là khổ. Diệt đế là trạng thái hết sạch mọi đau khổ và nguyện nhân đau khổ, là an lạc, Niết-bàn. Đạo đế là con đường dẫn đến an lạc, là tám chánh đạo, là trung đạo, không có con đường nào khác. Bạch Thế Tôn, cả bốn chúng đều không còn thắc mắc gì về bốn chân lý cao thượng nầy nữa. O
Lúc bấy giờ trong chúng, hàng đệ tử hữu học phải đối diện sự kiện Đức Phật sẽ vô dư Niết-bàn, đều bi cảm, đau xót. Hàng đệ tử mới vào đạo nghe những lời dạy cuối cùng đều được hóa độ, như trong đêm tối nhờ có ánh sáng, nên thấy đường đi. Các hàng đệ tử vô học đã dứt sạch các phiền não, vượt ra khỏi sanh tử, vẫn không ngăn được sự ngậm ngùi: “Tại sao Đức Thế Tôn vô dư Niết-bàn quá sớm ! Lúc đó, Đức Phật vì thương bốn chúng nên dạy thêm rằng: O
- Này các đệ tử, chớ có thảm sầu, đau xót. Dẫu Như Lai có sống thêm ở đời một kiếp nữa, rồi cũng phải đến ngày Niết-bàn. Hội ngộ mà không chia tay; kết hợp mà không tan rã là điều không thể có được. O
Đối với Như Lai, kinh nghiệm và pháp thức lợi mình, lợi người, Như Lai đều đã tuyên bố. Thật chẳng có lợi ích gì, nếu Như Lai sống lâu nơi đời mà các vị không thực hành chánh pháp. Những chúng sanh đáng độ, Như Lai đã độ hết. Những chúng sanh chưa được độ, Như Lai cũng đã tạo nhân duyên để họ được hóa độ. Từ nay trở đi, đệ tử của Như Lai hãy noi theo truyền thống chánh pháp mà thực hành. Đó là cách làm cho pháp thân Như Lai thường còn, và mãi mãi bất diệt ở thế gian. Như Lai vô dư Niết-bàn hay không, việc đó không quan trọng. O
Này các đệ tử, các vị nên nhận thức rằng mọi vật thể, hiện tượng trên thế gian này đều chuyển biến, vô thường, có kết hợp thì phải có tan rã, chẳng có gì để quyến luyến, thương tâm. Cuộc đời là như thế, các vị phải nỗ lực tinh tấn để tự giải thoát. Dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê. Đời là một sự vận hành không kiên định. Như Lai vô dư Niết-bàn như bỏ đi một căn bệnh dữ. Đó là năm nhóm nhân tính, mang tính tội lỗi, tạm gọi là thân, vì thế, nó phải chịu sự chi phối không thương tiếc của già, bệnh và chết. Bậc tuệ trí khi thoát khỏi nó có cảm tưởng như là dẹp xong được bọn cướp. Như vậy, chết không đáng để hoan hỷ, an lạc hay sao ? O
Này các đệ tử, các vị phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát. Toàn thể thế giới từ những vật thể đang vận động cho đến các vật thể không vận động cũng đều không thường còn, và không có thực thể, rồi phải đến lúc hoại diệt.
Thôi, các vị hãy yên lặng, đừng nói thêm lời nào nữa! Đã đến lúc Như Lai vô dư Niết-bàn. Đó là những lời dạy cuối cùng của Như Lai.
Này các đệ tử, sau khi Như Lai qua đời, các vị phải trân trọng, cung kính giới luật như kẻ nghèo hèn được giàu có, như kẻ đui mù được sáng mắt. Phải biết rằng giới luật là bậc Thầy tối thượng. Dẫu có sống thêm ở đời bao nhiêu năm nữa, Như Lai cũng không ngoài mục đích răn dạy các vị về giới luật ấy thôi. O
Người giữ giới thì không được kinh doanh, thương mại, xây dựng nhà cửa, cày cấy ruộng vườn, đầu tư nông nghiệp, thuê người giúp việc, theo kiểu thế tục. Không được chặt đốn cây cối, đào đất, móc hang, điều chế dược liệu, đoán quẻ tốt xấu, xem sao đoán mạng, nghiên cứu địa lý, tìm tòi hưng suy, hay coi lịch đoán số. O
Các vị nên sống tiết chế thân mạng, ăn uống điều độ, duy trì nếp sống thanh cao, giải thoát. Không tham dự chính trị, lãnh sứ mạng liên lạc, thông tin. Không được luyện bùa chú, chế linh dược, giao hảo người quyền quý, kết thân kẻ ngạo mạn. Cần phải giữ tâm chân thật, sống chánh niệm và tỉnh thức trong từng phút giây, mong cầu đạo quả giải thoát. Không được che dấu lỗi lầm, bày điều mê hoặc để thu hút quần chúng. Phải sống ít muốn, biết đủ đối với bốn phẩm vật cúng dường. Sống vừa đủ để hành đạo, không cất chứa tài sản và tiền bạc. O
Như Lai vừa nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới luật đó là căn bản, là gốc rễ của giải thoát. Nhờ giữ giới trang nghiêm, thiền định và trí tuệ phát sanh, có thể tiêu diệt sự đau khổ. Thế nên các vị hãy giữ gìn giới luật một cách trọn vẹn. Người giữ giới thanh tịnh sẽ nuôi lớn pháp lành. Người thiếu mất giới thì không thể phát sinh công đức. O
Này các đệ tử, các vị phải chế ngự năm giác quan không để chúng dong ruổi theo trần cảnh, dục lạc. Người tu phải như chú mục đồng cầm roi chăn, không để trâu dẫm đạp lúa mạ của người. Một khi các vị buông lung năm giác quan, không những các vị không chế ngự được năm thứ dục lạc, mà các vị cũng không thể dừng được vòng cương toả của phóng túng, như con ngựa chứng nếu không dây cương, nó sẽ lao xuống hầm hố. Nạn khổ của giặc cướp chỉ có một đời, trong khi nạn giặc giác quan làm chúng sanh đau khổ nhiều kiếp. Tai họa của nó vô cùng nguy hiểm. Các vị phải cẩn thận. O
Thế nên, người có trí cần phải chế ngự các giác quan chứ không phục tùng nó; giữ gìn chúng như là canh chừng giặc cướp, không để chúng hoành hành, thao túng.
Này các đệ tử, trong các giác quan của con người, ý là quan trọng nhất. Các vị phải thận trọng chế ngự tâm ý mình. Tâm ý rất đáng sợ, nguy hiểm còn hơn thú dữ, rắn độc, thậm chí nguy hại hơn cả nạn hỏa hoạn. Cũng như có người mải mê cầm giữ chén mật trên tay và quên đi hầm hố trên đường, sẽ bị vấp ngã. Cũng như voi say mà không có móc sắt; như khỉ vượn gặp được cây rừng tha hồ mà chuyền nhảy, muốn chế ngự chúng thì thật là khó. Vì vậy các vị siêng năng chế ngự tâm mình, để giữ gìn tất cả các pháp thiện. Khi tâm được chế ngự một chỗ thì không việc gì không thành. O
Này các đệ tử, khi thọ dụng phẩm vật cúng dường, các vị nên quan niệm như uống thuốc. Ngon không ham, dở không chê. Ăn uống chỉ để cho khỏi đói khát. Như ong hút mật trong hoa, chỉ lấy mùi vị, không làm tổn thương hương sắc. Người xuất gia cũng vậy: thọ dụng sự cúng dường để đủ sức khoẻ tu tập, không được ham cầu quá nhiều, làm tổn thất tín tâm của tín thí. Hãy như người trí biết lượng sức kéo và chịu đựng của trâu, không nên dùng trâu quá sức, đến nỗi kiệt lực. O
Này các đệ tử, ban ngày thì nỗ lực tu tập pháp lành, không để thời gian trôi qua uổng phí. Đầu hôm, cuối đêm cũng không luống bỏ. Giữa đêm tụng niệm, tu trì. Đừng vì chuyện ngủ nghỉ mà để cuộc đời trôi qua vô ích. Hãy tâm niệm rằng ngọn lửa vô thường đang đốt cháy thế gian, để tự tinh tấn độ mình, khắc phục sự lười biếng, ngủ nghỉ. Giặc phiền não luôn rình rập giết các vị, còn nguy hiểm hơn kẻ thù, làm sao các vị có thể mặc tình ngủ nghỉ mà không cảnh giác ! Phiền não ngủ trong tâm người cũng như rắn độc nằm trong nhà, phải dùng móc sắt giới hạnh mà lôi kéo nó ra gấp. Rắn độc ra rồi ta mới an tâm ngủ nghỉ. Rắn độc chưa ra mà mải mê ngủ nghỉ thì thật là người không biết hổ thẹn. O
Này các đệ tử, sự hổ thẹn là trang sức đẹp nhất trong mọi trang sức. Sự hổ thẹn có khả năng chế ngự mọi thứ bất thiện và phi pháp của con người. Thế nên hãy sống với tâm niệm hổ thẹn, đừng bao giờ lãng quên đức tính ấy. Mất tâm hổ thẹn là mất tất cả công đức. Có hổ thẹn là có tất cả thiện pháp. Không hổ thẹn thì có khác chi loài cầm thú. O
Này các đệ tử, nếu có ai xúc phạm, thương tổn thân thể các vị, các vị nên kiềm chế tâm mình, đừng để lửa sân hận thiêu đốt. Lại phải giữ lời ăn, tiếng nói, đừng buông lời ác độc để trả đũa ai. Tâm sân hận trỗi dạy sẽ làm băng hoại đạo nghiệp, cháy hết công đức tu tập. Đức tánh của kham nhẫn thì giữ giới và khổ hạnh cũng không thể sánh bằng. Thực hành đức nhẫn mới xứng danh là bậc Thượng Nhân có sức mạnh. Người nào chưa có thể chịu đựng sự nhục mạ một cách hoan hỷ, như uống cam lộ, thì chưa thể xứng danh là người vào đạo có trí. Sự sân hận sẽ thiêu hủy tất cả pháp lành, nó nguy hiểm hơn lửa dữ. Các vị phải canh phòng cẩn mật, đừng cho sân hận xâm nhập. Trong các loại giặc cướp công đức thì sân hận là nguy hiểm bậc nhất. Người thế gian sống thọ hưởng dục lạc, thiếu phương pháp chế ngự, nếu có sân hận còn có thể tha thứ được. Người xuất gia hành đạo loại bỏ mọi thứ vui của đời mà không loại bỏ được sân hận thì thật đáng trách, cũng giống như bầu trời quang đãng mà có sấm sét nổi lên là điều không thích hợp. O
Này các đệ tử, các vị hãy tự xoa đầu mình và ghi nhớ rằng: các vị đã bỏ tất cả các mỹ phẩm và trang sức của thế gian, khoác trên mình chiếc áo cà-sa hoại sắc, sống bằng cách khất thực. Khi nào tâm lý kiêu mạn, cao ngạo nổi lên thì lập tức chế ngự nó. Kiêu ngạo là tánh xấu mà thế nhân còn không nên có, huống chi là người xuất gia vì đạo giải thoát, sống bằng khất thực hay sao! O
Này các đệ tử, tâm lý dua nịnh trái ngược hoàn toàn với đạo giải thoát. Thế nên, các vị hãy huấn luyện tâm cho thật chất trực. Nên biết rằng: Dua nịnh là điều dối trá mà người xuất gia không nên có. Phải làm cho tâm ý đoan chánh, phát huy đức tánh trung trực. Đó là con đường vào đạo. O
Này các đệ tử, các vị nên biết rằng người nào tham muốn nhiều thì nhu cầu lợi dưỡng cũng nhiều, do vậy mà đau khổ càng tăng. Người ít muốn thì không ham cầu, không đắm nhiễm nên không có tệ hại ấy. Chỉ với lợi ích ấy thôi cũng đủ để các vị phải trau dồi, thực tập, huống là khi hạnh này còn có công năng phát triển các công đức ! Người ít muốn thì không lấy lòng người bằng cách dua nịnh, lòn cúi và cũng không bị các giác quan sai sử, thao túng. Hành giả ít muốn, tâm ý được thanh thản, không còn những ưu tư, phiền muộn, gặp việc thì đủ nghị lực để ứng phó, không việc gì không làm được. Nói chung, sống hạnh ít muốn tất gần Niết-bàn. O
Này các đệ tử, nếu các vị muốn giải thoát mọi đau khổ thì nên thường xuyên tu tập quán biết đủ. Pháp biết đủ là cơ sở của sự an lạc, hạnh phúc và sung mãn. Người biết đủ dẫu nằm trên đất vẫn thấy an lạc. Người không biết đủ dẫu sống ở thiên đường vẫn chưa thấy toại nguyện. Không biết đủ tuy giàu mà rất nghèo. Biết đủ thì tuy nghèo nhưng rất giàu có. Người không biết đủ là kẻ nô lệ của năm thứ dục lạc thấp kém và còn là tấm bia đời đáng thương xót đối với hành giả biết đủ. O
Này các đệ tử, muốn đạt đạo tịch tịnh, vô vi, an lạc, các vị phải xa lìa những chốn huyên náo, sống một mình ở những nơi an nhàn, thanh vắng. Người ở chỗ yên tĩnh thì trời Đế-thích và chư Thiên đều kính trọng. Vì thế, các vị nên xa lìa hội chúng, sống đơn độc thư thái và cắt đứt gốc rễ đau khổ bằng tư duy trí tuệ. Người thích hội chúng thì bị hội chúng nhiễu loạn, như cây cổ thụ mà có nhiều chim tụ tập thì có thể bị hư cành. Thế gian trói buộc con người trong đau khổ cũng giống như con voi già bị sa lầy, khó mong thoát khỏi. Đó là hạnh siêu thoát, các vị cần ghi tâm. O
Này các đệ tử, nỗ lực tinh tấn thì không việc gì khó khăn. Thế nên các vị phải siêng năng, tinh tấn như giọt nước thường nhỏ có thể xuyên thủng đá. Người tu hành mà biếng nhác thì khác nào như người cọ cây lấy lửa, cây chưa kịp nóng đã nghỉ, dầu tha thiết được lửa, lửa cũng không vì thế mà có được. Hãy siêng năng tinh tấn không dừng. O
Này các đệ tử, thực ra cầu cạnh thiện tri thức hay người trợ lực không bằng tự mình đề cao chánh niệm, tỉnh thức. Có chánh niệm thì giặc phiền não không thể xâm nhập được.
Thế nên các vị phải sống trong sự nhiếp niệm. Mất chánh niệm là đồng nghĩa với mất công đức. Có được chánh niệm bền vững thì dù sống trong môi trường ngũ dục cũng chẳng hề gì, như người chiến sĩ vào trận có mặc áo giáp thì không còn sợ gì nữa. O
Này các đệ tử, nhiếp phục được tâm ý là làm cho tâm an trụ vào định. Tâm trụ thiền định thì sẽ thấu triệt được trạng thái sinh diệt, chuyển biến của thế giới. Các vị phải tinh tấn tu tập thiền định. Tâm định thì trạng thái chao động, tán loạn sẽ tiêu mất cũng như người biết cách giữ nước thì phải bảo vệ tốt đê điều. Cũng vậy, muốn có nước trí tuệ, các vị phải khéo tu tập thiền định, không để cho rỉ chảy. O
Này các đệ tử, có trí tuệ thì không có tham trước, luôn luôn tự tỉnh thức và tự dò xét, nhờ đó người ấy có khả năng giải thoát trong giáo pháp của Như Lai. Nếu không có trí tuệ thì không xứng danh là bậc xuất gia. Trí tuệ là chiếc thuyền vững chắc vượt qua biển sanh tử, là ngọn đèn sáng chói trong hắc ám vô minh, là dược liệu thần y của mọi bịnh tật và là lưỡi búa bén chặt đứt cây phiền não. Vì thế, các vị cần trau dồi tuệ giác “văn, tư, tu” để tăng trưởng lợi ích. Người có trí tuệ soi chiếu thì dẫu là mắt thịt vẫn là người chánh kiến, thấy rõ bản chất mọi vật. O
Này các đệ tử, hý luận chỉ làm cho tâm trí rối loạn. Người xuất gia mà sống hý luận thì không thể đạt được tuệ giác giải thoát. Vì thế các vị phải nhanh chóng từ bỏ vĩnh viễn tâm lý hý luận, vô ích. Diệt trừ các hý luận tạp loạn mới có thể đạt được an lạc tịch diệt. O
Này các đệ tử, hãy thường xuyên nhớ đến các công đức để từ bỏ tất cả mọi phóng dật, như là tránh xa bọn giặc cướp tài sản thánh. Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã tuyên nói chánh pháp lợi ích rốt ráo. Về phần mình, các vị hãy nỗ lực tinh tấn thường xuyên, đừng để cuộc đời trôi qua vô ích, sau này ăn năn, hối hận đã muộn. Như Lai như là vị lương y, rõ biết bịnh lý, cho toa thuốc hợp bịnh trạng từng người. Uống hay không uống không phải là lỗi của lương y. Như Lai lại cũng như người chỉ đường, chỉ rõ đâu là con đường nên đi và hướng đến giải thoát. Biết rõ đường lành mà không chịu cất bước lên đường không phải là lỗi của vị đạo sư! O
Này các đệ tử, đối với bốn chân lý thánh, nếu có chỗ nào chưa thấu đáo, thì nên thưa hỏi, Như Lai sẽ chỉ bày cho các con. Thế Tôn khuyên nhắc ba lần như vậy, bốn chúng đều im lặng, không ai còn thắc mắc. O
Lúc ấy, tôn giả A-nậu-lâu-đà bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn, dù cho mặt trăng có thể trở nên nóng, mặt trời có trở nên lạnh, nhưng Bốn Chân Lý Thánh mà Như Lai đã dạy không thể nào thay đổi được. Khổ đế là thực trạng đau khổ của cuộc đời: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thù ghét mà phải gặp mặt là khổ, thương yêu mà phải chia lìa là khổ, chấp vào năm nhóm nhân thể là khổ. Diệt đế là trạng thái hết sạch mọi đau khổ và nguyện nhân đau khổ, là an lạc, Niết-bàn. Đạo đế là con đường dẫn đến an lạc, là tám chánh đạo, là trung đạo, không có con đường nào khác. Bạch Thế Tôn, cả bốn chúng đều không còn thắc mắc gì về bốn chân lý cao thượng nầy nữa. O
Lúc bấy giờ trong chúng, hàng đệ tử hữu học phải đối diện sự kiện Đức Phật sẽ vô dư Niết-bàn, đều bi cảm, đau xót. Hàng đệ tử mới vào đạo nghe những lời dạy cuối cùng đều được hóa độ, như trong đêm tối nhờ có ánh sáng, nên thấy đường đi. Các hàng đệ tử vô học đã dứt sạch các phiền não, vượt ra khỏi sanh tử, vẫn không ngăn được sự ngậm ngùi: “Tại sao Đức Thế Tôn vô dư Niết-bàn quá sớm ! Lúc đó, Đức Phật vì thương bốn chúng nên dạy thêm rằng: O
- Này các đệ tử, chớ có thảm sầu, đau xót. Dẫu Như Lai có sống thêm ở đời một kiếp nữa, rồi cũng phải đến ngày Niết-bàn. Hội ngộ mà không chia tay; kết hợp mà không tan rã là điều không thể có được. O
Đối với Như Lai, kinh nghiệm và pháp thức lợi mình, lợi người, Như Lai đều đã tuyên bố. Thật chẳng có lợi ích gì, nếu Như Lai sống lâu nơi đời mà các vị không thực hành chánh pháp. Những chúng sanh đáng độ, Như Lai đã độ hết. Những chúng sanh chưa được độ, Như Lai cũng đã tạo nhân duyên để họ được hóa độ. Từ nay trở đi, đệ tử của Như Lai hãy noi theo truyền thống chánh pháp mà thực hành. Đó là cách làm cho pháp thân Như Lai thường còn, và mãi mãi bất diệt ở thế gian. Như Lai vô dư Niết-bàn hay không, việc đó không quan trọng. O
Này các đệ tử, các vị nên nhận thức rằng mọi vật thể, hiện tượng trên thế gian này đều chuyển biến, vô thường, có kết hợp thì phải có tan rã, chẳng có gì để quyến luyến, thương tâm. Cuộc đời là như thế, các vị phải nỗ lực tinh tấn để tự giải thoát. Dùng ánh sáng trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê. Đời là một sự vận hành không kiên định. Như Lai vô dư Niết-bàn như bỏ đi một căn bệnh dữ. Đó là năm nhóm nhân tính, mang tính tội lỗi, tạm gọi là thân, vì thế, nó phải chịu sự chi phối không thương tiếc của già, bệnh và chết. Bậc tuệ trí khi thoát khỏi nó có cảm tưởng như là dẹp xong được bọn cướp. Như vậy, chết không đáng để hoan hỷ, an lạc hay sao ? O
Này các đệ tử, các vị phải tha thiết tìm kiếm con đường giải thoát. Toàn thể thế giới từ những vật thể đang vận động cho đến các vật thể không vận động cũng đều không thường còn, và không có thực thể, rồi phải đến lúc hoại diệt.
Thôi, các vị hãy yên lặng, đừng nói thêm lời nào nữa! Đã đến lúc Như Lai vô dư Niết-bàn. Đó là những lời dạy cuối cùng của Như Lai.
KINH ĐẠI PHƯỚC ĐỨC
Chính tôi được nghe như vầy: Một thuở nọ khi Đức Thế Tôn cư ngụ tại thành Xá Vệ, tại Tu Viện Cấp Cô Độc trong vườn Kỳ Đà. Hôm đó, trời đã về khuya, có một vị Thiên Giả hiện xuống thăm Ngài, hòa quang và vẻ đẹp của Thiên Giả làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn ; vị Thiên Giả đứng sang một bên và cung kính tham vấn Ngài bằng một bài kệ:
Nhiều Thiện Nhân thao thức
Muốn biết về Phước Đức
Để sống được an lành
Xin Đức Thế Tôn chỉ dạy.
Sau đây là lời Đức Thế Tôn :
Nên tránh kẻ xấu ác
Hãy gần bậc hiền lành
Tôn kính bậc đáng kính
Là Phước Đức lớn nhất.
Sống trong môi trường tốt
Đã tạo tác nhân lành
Được đi trên đường chánh
Là Phước Đức lớn nhất.
Có học có nghề hay
Biết hành trì giới luật
Biết nói lời ái ngữ
Là Phước Đức lớn nhất.
Được phụng dưỡng mẹ cha
Yêu thương gia đình mình
Được hành nghề an lạc
Là Phước Đức lớn nhất.
Sống ngay thẳng bố thí
Giúp quyến thuộc thân bằng
Hành xử không tỳ vết
Là Phước Đức lớn nhất.
Tránh không làm điều ác
Nên xa các tội lỗi
Không say sưa nghiện ngập
Tinh cần làm việc lành
Là Phước Đức lớn nhất.
Biết khiêm cung lễ độ
Tri túc và biết ơn
Không bỏ việc học đạo
Là Phước Đức lớn nhất.
Biết kiên trì phục thiện
Thân cận bậc Thánh Hiền
Dự pháp đàm học hỏi
Là Phước Đức lớn nhất
Sống tinh cần tỉnh thức
Học chân lý nhiệm mầu
Thực chứng được Niết Bàn
Là Phước Đức lớn nhất.
Sống chung đụng nhân gian
Tâm không hề lay chuyển (
Phiền não hết , an nhiên
Sống hoàn toàn an tịnh
Là Phước Đức lớn nhất.
Cứ sống được như thế
Đi đâu cũng an lành
Tới đâu cũng hạnh phúc
Thật Phước Đức vô biên
Thích Huyền Diệu — cùng với Hồng Hạnh, Hoa Mai, Than Giang, Xuan Giang, Yen Nguyen, Thanh Giang, Anh Ngoc, Hoa Giang, Nguyễn Văn Vĩnh, Hue Giang và PhươngThảo Đàm.
Chính tôi được nghe như vầy: Một thuở nọ khi Đức Thế Tôn cư ngụ tại thành Xá Vệ, tại Tu Viện Cấp Cô Độc trong vườn Kỳ Đà. Hôm đó, trời đã về khuya, có một vị Thiên Giả hiện xuống thăm Ngài, hòa quang và vẻ đẹp của Thiên Giả làm sáng cả vườn cây. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn ; vị Thiên Giả đứng sang một bên và cung kính tham vấn Ngài bằng một bài kệ:
Nhiều Thiện Nhân thao thức
Muốn biết về Phước Đức
Để sống được an lành
Xin Đức Thế Tôn chỉ dạy.
Sau đây là lời Đức Thế Tôn :
Nên tránh kẻ xấu ác
Hãy gần bậc hiền lành
Tôn kính bậc đáng kính
Là Phước Đức lớn nhất.
Sống trong môi trường tốt
Đã tạo tác nhân lành
Được đi trên đường chánh
Là Phước Đức lớn nhất.
Có học có nghề hay
Biết hành trì giới luật
Biết nói lời ái ngữ
Là Phước Đức lớn nhất.
Được phụng dưỡng mẹ cha
Yêu thương gia đình mình
Được hành nghề an lạc
Là Phước Đức lớn nhất.
Sống ngay thẳng bố thí
Giúp quyến thuộc thân bằng
Hành xử không tỳ vết
Là Phước Đức lớn nhất.
Tránh không làm điều ác
Nên xa các tội lỗi
Không say sưa nghiện ngập
Tinh cần làm việc lành
Là Phước Đức lớn nhất.
Biết khiêm cung lễ độ
Tri túc và biết ơn
Không bỏ việc học đạo
Là Phước Đức lớn nhất.
Biết kiên trì phục thiện
Thân cận bậc Thánh Hiền
Dự pháp đàm học hỏi
Là Phước Đức lớn nhất
Sống tinh cần tỉnh thức
Học chân lý nhiệm mầu
Thực chứng được Niết Bàn
Là Phước Đức lớn nhất.
Sống chung đụng nhân gian
Tâm không hề lay chuyển (
Phiền não hết , an nhiên
Sống hoàn toàn an tịnh
Là Phước Đức lớn nhất.
Cứ sống được như thế
Đi đâu cũng an lành
Tới đâu cũng hạnh phúc
Thật Phước Đức vô biên
Thích Huyền Diệu — cùng với Hồng Hạnh, Hoa Mai, Than Giang, Xuan Giang, Yen Nguyen, Thanh Giang, Anh Ngoc, Hoa Giang, Nguyễn Văn Vĩnh, Hue Giang và PhươngThảo Đàm.
RATANASUTTAṂ KINH CHÂU BÁU
(BÀI KINH TRỪ DỊCH BỆNH - PHÉP HỘ TRÌ NGƯỜI TRÌ PHÁP) Buddha Jayanti Tripitaka Series - Tạng Sri Lanka Bản tụng kệ tiếng Việt (Hòa Thượng Thích Minh Châu)
(BÀI KINH TRỪ DỊCH BỆNH - PHÉP HỘ TRÌ NGƯỜI TRÌ PHÁP) Buddha Jayanti Tripitaka Series - Tạng Sri Lanka Bản tụng kệ tiếng Việt (Hòa Thượng Thích Minh Châu)
KINH CHÂU BÁU
1. Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin mở lòng hoan hỷ
Lắng nghe lời dạy này.
1. Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin mở lòng hoan hỷ
Lắng nghe lời dạy này.
2.Tất cả chúng Thiên nhân
Hãy đồng tâm hoan hỷ
Mở rộng tấm lòng từ
Luôn chuyên cần gia hộ
Những người nam, nữ nào
Ngày đêm thường bố thí.
Hãy đồng tâm hoan hỷ
Mở rộng tấm lòng từ
Luôn chuyên cần gia hộ
Những người nam, nữ nào
Ngày đêm thường bố thí.
3. Phàm những tài sản gì
Đời này hay đời sau
Hoặc châu báu thù thắng
Hiện hữu trên cõi trời
Không gì sánh bằng được
Với Thiện Thệ Như Lai
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Đời này hay đời sau
Hoặc châu báu thù thắng
Hiện hữu trên cõi trời
Không gì sánh bằng được
Với Thiện Thệ Như Lai
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
4. Ly dục diệt phiền não
Pháp bất tử thù diệu
Phật Thích Ca Mâu Ni
Đã Chứng Đắc tịch tịnh
Chẳng Pháp nào sánh bằng
Như vậy chính Pháp Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Pháp bất tử thù diệu
Phật Thích Ca Mâu Ni
Đã Chứng Đắc tịch tịnh
Chẳng Pháp nào sánh bằng
Như vậy chính Pháp Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
5. Bậc Vô Thượng Chánh Giác
Hằng ca ngợi Pháp thiền
Trong sạch, không gián đoạn
Chẳng thiền nào sánh bằng
Như vậy chính Pháp Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Hằng ca ngợi Pháp thiền
Trong sạch, không gián đoạn
Chẳng thiền nào sánh bằng
Như vậy chính Pháp Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
6. Thánh tám vị bốn đôi
Được bậc thiện tán thán
Đệ tử Đấng Thiện Thệ
Xứng đáng được cúng dường
Bố thí các vị ấy
Được kết quả vô thượng
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Được bậc thiện tán thán
Đệ tử Đấng Thiện Thệ
Xứng đáng được cúng dường
Bố thí các vị ấy
Được kết quả vô thượng
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
7. Thiện hạnh tâm kiên cố
Ly dục trong Chánh Đạo
Của Phật Gotama
Chứng nhập vị bất tử
Hưởng tịch tịnh dễ dàng
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Ly dục trong Chánh Đạo
Của Phật Gotama
Chứng nhập vị bất tử
Hưởng tịch tịnh dễ dàng
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
8.Ví như cột trụ đá
Khéo y cứ lòng đất
Dầu có gió bốn phương
Cũng không hề lay động
Ta nói bậc chân nhân
Liễu ngộ Tứ Thánh Đế
Cũng tự tại bất động
Trước tám Pháp thế gian
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Khéo y cứ lòng đất
Dầu có gió bốn phương
Cũng không hề lay động
Ta nói bậc chân nhân
Liễu ngộ Tứ Thánh Đế
Cũng tự tại bất động
Trước tám Pháp thế gian
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
9. Bậc thấu triệt Thánh Đế
Đã được khéo thuyết giảng
Bởi trí tuệ uyên thâm
Dù cho có phóng dật
Cũng không thể tái sanh
Nhiều hơn trong bảy kiếp
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Đã được khéo thuyết giảng
Bởi trí tuệ uyên thâm
Dù cho có phóng dật
Cũng không thể tái sanh
Nhiều hơn trong bảy kiếp
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
10. Những bậc kiến cụ túc
Đoạn trừ ba kiết sử
Là thân kiến, hoài nghi
Luôn cả giới cấm thủ
Thoát khỏi bốn đọa xứ
Không làm sáu trọng tội
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Đoạn trừ ba kiết sử
Là thân kiến, hoài nghi
Luôn cả giới cấm thủ
Thoát khỏi bốn đọa xứ
Không làm sáu trọng tội
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
11. Dầu có làm tội gì
Bằng thân, khẩu hoặc ý
Các Ngài chẳng bao giờ
Che dấu điều đã phạm
Bởi vì Đức tánh này
Được gọi là thấy phi
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Bằng thân, khẩu hoặc ý
Các Ngài chẳng bao giờ
Che dấu điều đã phạm
Bởi vì Đức tánh này
Được gọi là thấy phi
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
12. Ví như cây trong rừng
Đâm chồi đầu mùa hạ
Cũng vậy Đức Thế Tôn
Thuyết giảng Pháp ưu việt
Dẫn đến ngộ Niết-bàn
Là lợi ích tối thượng
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Đâm chồi đầu mùa hạ
Cũng vậy Đức Thế Tôn
Thuyết giảng Pháp ưu việt
Dẫn đến ngộ Niết-bàn
Là lợi ích tối thượng
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
13. Đức Phật bậc vô thượng
Liễu thông Pháp vô thượng
Ban bố Pháp vô thượng
Chuyển đạt Pháp vô thượng
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Liễu thông Pháp vô thượng
Ban bố Pháp vô thượng
Chuyển đạt Pháp vô thượng
Như vậy chính Đức Phật
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
14. Nghiệp cũ đã tiêu mòn
Nghiệp mới không phát khởi
Nhàm chán kiếp tái sinh
Chủng tử dục đoạn tận
Bậc trí chứng Niết-bàn
Ví như ngọn đèn tắt
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
Nghiệp mới không phát khởi
Nhàm chán kiếp tái sinh
Chủng tử dục đoạn tận
Bậc trí chứng Niết-bàn
Ví như ngọn đèn tắt
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu
Mong với sự thật này
Được sống chơn hạnh phúc.
15. Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Phật
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên, loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Phật
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên, loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.
16. Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Pháp
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Pháp
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.
17. Phàm chúng Thiên nhân nào
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Tăng
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên, loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.
Cư ngụ trên địa cầu
Hoặc hư không trú xứ
Đã vân tập về đây
Xin đồng tâm hoan hỷ
Thành kính đảnh lễ Tăng
Đã như thật xuất hiện
Mà Chư Thiên, loài người
Thường cúng dường tôn trọng
Mong được sống an lành.
KINH TỪ BI
Metta Sutta còn được dịch là Kinh Lòng Từ hay Kinh Tâm Từ, thuộc Kinh Tập (Sutta Nipata) của Tiểu Bộ Kinh
(Dịch giả : Thích Thiện Châu)
1. Ai khôn ngoan muốn tìm hạnh phúc
Và ước mong sống với an lành
Phải tài năng ngay thẳng công minh
Nghe lời phải dịu hiền khiêm tốn.
2. Ưa thanh bần dễ dàng chịu đựng
Ít bận rộn vui đời giản dị
Chế ngự giác quan và thận trọng
Không liều lĩnh chẳng mê tục lụy.
3. Không chạy theo điều quấy nhỏ nhoi
Mà thánh hiền có thể chê bai
Đem an vui đến cho muôn loài
Cầu chúng sinh thảy đều an lạc.
4. Không bỏ sót một hữu tình nào
Kẻ ốm yếu hoặc người khỏe mạnh
Giống lớn to hoặc loại dài cao
Thân trung bình hoặc ngắn, nhỏ, thô.
5. Có hình tướng hay không hình tướng
Ở gần ta hoặc ở nơi xa
Đã sanh rồi hoặc sắp sanh ra
Cầu cho tất cả đều an lạc.
6.Với ai và bất luận ở đâu
Không lừa dối chẳng nên khinh dễ
Lúc căm hờn hoặc khi giận dữ
Đừng mưu toan gây khổ cho nhau.
7. Như mẹ hiền thương yêu con một
Dám hy sinh bảo vệ cho con
Với muôn loài ân cần không khác
Lòng ái từ như bể như non.
8. Tung rải từ tâm khắp vũ trụ
Mở rộng lòng thương không giới hạn
Tầng trên, phía dưới và khoảng giữa
Không vuớng mắc, oán thù, ghét bỏ.
9. Khi đi, khi đứng, hoặc nằm ngồi
Hễ lúc nào tinh thần tỉnh táo
Phát triển luôn dòng chánh niệm này
Là lối sống đẹp cao nhất đời.
10. Đừng để lạc vào nơi mê tối
Đủ giới đức, trí tuệ cao vời
Và dứt bỏ lòng tham dục lạc
Được như thế thoát khỏi luân hồi.
Và ước mong sống với an lành
Phải tài năng ngay thẳng công minh
Nghe lời phải dịu hiền khiêm tốn.
2. Ưa thanh bần dễ dàng chịu đựng
Ít bận rộn vui đời giản dị
Chế ngự giác quan và thận trọng
Không liều lĩnh chẳng mê tục lụy.
3. Không chạy theo điều quấy nhỏ nhoi
Mà thánh hiền có thể chê bai
Đem an vui đến cho muôn loài
Cầu chúng sinh thảy đều an lạc.
4. Không bỏ sót một hữu tình nào
Kẻ ốm yếu hoặc người khỏe mạnh
Giống lớn to hoặc loại dài cao
Thân trung bình hoặc ngắn, nhỏ, thô.
5. Có hình tướng hay không hình tướng
Ở gần ta hoặc ở nơi xa
Đã sanh rồi hoặc sắp sanh ra
Cầu cho tất cả đều an lạc.
6.Với ai và bất luận ở đâu
Không lừa dối chẳng nên khinh dễ
Lúc căm hờn hoặc khi giận dữ
Đừng mưu toan gây khổ cho nhau.
7. Như mẹ hiền thương yêu con một
Dám hy sinh bảo vệ cho con
Với muôn loài ân cần không khác
Lòng ái từ như bể như non.
8. Tung rải từ tâm khắp vũ trụ
Mở rộng lòng thương không giới hạn
Tầng trên, phía dưới và khoảng giữa
Không vuớng mắc, oán thù, ghét bỏ.
9. Khi đi, khi đứng, hoặc nằm ngồi
Hễ lúc nào tinh thần tỉnh táo
Phát triển luôn dòng chánh niệm này
Là lối sống đẹp cao nhất đời.
10. Đừng để lạc vào nơi mê tối
Đủ giới đức, trí tuệ cao vời
Và dứt bỏ lòng tham dục lạc
Được như thế thoát khỏi luân hồi.
